NGƯỜI BÀ BỊ LÃNG QUÊN

CHƯƠNG 3



**“Cô ấy đến thế gian này một chuyến, đầu tiên tạm trú trong nhà cha, rồi tạm ở nhà chồng, cuối cùng là ghé lại nhà con trai. Suốt đời như khách trọ, cuối cùng hóa thành cánh hoa bay trong gió, chiếc lá trôi giữa mưa.”**

Các cậu từng nghe chưa?

Ở nông thôn, phụ nữ chỉ khi đã kết hôn mới được chôn trong nghĩa trang gia đình.

Phải dựa vào chồng, mới có quyền được an táng tử tế.

Tôi còn nhớ, lúc đó vì bà mà tôi cãi nhau một trận lớn với cậu:

“Cậu một năm chỉ về nhà vài ngày, còn lại đều là bà sống ở đây! Tại sao không tôn trọng bà một chút?”

Cậu chẳng buồn nhìn tôi, quay đầu bỏ đi:

“Chuyện nhà tôi, đến mẹ cô còn không dám ý kiến, đến lượt cô à?”

Mẹ tôi biết chuyện thì càng không cho tôi xen vào.

Trước mặt cậu còn cúi đầu xin lỗi vì không dạy con tử tế, sau đó quay sang véo tay tôi, rít lên:

“Đó là nhà cậu mày, họ muốn làm gì thì mày quản được chắc? Tao với dì mày còn ngoan ngoãn chẳng nói gì.”

Tôi nghi hoặc hỏi:

“Nhưng đó chẳng phải là nhà của bà ngoại sao?”

Giấy chứng nhận nhà đất vẫn mang tên ông bà cơ mà.

Giờ ông đã mất, thì căn nhà này là của bà chứ?

Sao bà không có quyền quyết định việc có một khu vườn nhỏ?

“Mày nghĩ sai rồi!”

Mẹ nghiến răng dạy tôi một bài học đau lòng:

“Nhà gì mà của bà mày? Ông mày mất rồi thì nhà là của cậu, hai cậu mày muốn sửa thế nào là việc nhà họ Lâu.”

“Mày đúng là càng ngày càng to gan, tao còn không dám hó hé nửa lời, mày lại dám lên tiếng?”

“Con gái đã gả đi thì đừng quản chuyện bên nhà mẹ đẻ, gặp người khác là ăn bạt tai rồi!”

Tôi từng hỏi mẹ:

“Vậy chuyện của anh trai con, con cũng không được can thiệp?”

“Đúng. Con lấy chồng rồi là người ngoài. Giữa mẹ con mình còn không phải một nhà, huống chi là con với anh con.”

Từ ngày đó, lòng tôi nguội hẳn.

Không còn thân thiết được với mẹ như trước nữa.

Mắng chửi tôi một hồi, mẹ lại gửi tin nhắn:

Gửi cả chuyến bay của cậu tôi.

“Xem hộ mẹ cậu mày hạ cánh lúc nào, ông ấy chưa đi xa bao giờ, anh họ con cũng không mang theo nhiều tiền, con nhớ mua đồ tử tế cho họ.”

“Nhà bà ngoại giờ sang thế, cậu mày cũng phải ăn mặc cho ra dáng, đừng có keo kiệt mà tiếc tiền.”

“À, khách sạn cũng phải con đặt, anh họ con bảo tiền mua vé máy bay xong là hết sạch rồi, lúc về còn phải nhờ con lo vé nữa đấy.”

“Đều là người nhà cả, đừng tính toán, có hiếu thì phải biết chi tiêu đúng chỗ.”

Đọc đến đây, tôi không nhịn được mà bật cười lạnh.

Nghe mẹ nói như vậy, tôi cũng chẳng ngạc nhiên.

Sinh nhật tôi, bà từng đòi tiền:

Vì đã sinh ra tôi, vì tôi khiến bà đau đớn.

Bắt tôi phải trả phí cảm ơn, phí vất vả, cả bồi thường tinh thần.

Mỗi dịp lễ Tết, ép tôi mua rượu Moutai và thuốc lá Trung Hoa để biếu hai cậu.

Giờ lại bảo tôi đặt khách sạn, mua quần áo cho họ.

Thật coi tôi là cái máy rút tiền chắc?

Tôi bật cười giễu cợt:

“Mẹ, nếu mẹ có tiền thì mẹ chi. Tiền của con, con tự quyết. Không đến lượt mẹ phân phát!”

Cãi nhau với mẹ xong, tôi dứt khoát dập máy.

Rồi báo cho bác và anh họ bên nhà họ Mạnh biết, cậu tôi đang trên chuyến bay đến bệnh viện.

Anh họ hỏi xin thông tin chuyến bay: “Để em lo liệu.”

“À đúng rồi, chị có thể giới thiệu cho em biết trong nhà chị có những ai không?”

“Sao cơ?”

Anh họ nói: “Em muốn biết bên cạnh cô Hai, rốt cuộc có mấy người thật lòng thương bà ấy.”

**Thật lòng sao?**

Tôi bỗng cảm thấy mơ hồ.

Ngay cả chính tôi…

Có phải cũng thật lòng không, tôi cũng không dám chắc nữa.

8

Bà ngoại có bốn người con.

Hai trai, hai gái.

Trong thời đại ấy, có quá nhiều điều khiến người ta không thể nói ra, cũng không biết nên nói từ đâu.

Tôi chỉ có thể đứng từ góc độ của một người ngoài, một người quan sát, để nhìn về cuộc đời bà.

Là con nuôi, bà ngoại từ nhỏ đã bị dạy rằng phải hiếu thảo với cha mẹ nuôi.

Dẫu sao thì người cha nuôi bị tật cũng đã phải hy sinh và vất vả rất nhiều để nuôi bà khôn lớn.

Từ bé, bà ngoại đã rất hiểu chuyện, giỏi việc nhà, biết chăm sóc người khác.

Bà có năng khiếu nuôi dạy, chăm sóc.

Gà vịt bà nuôi, đẻ trứng còn nhiều hơn nhà người khác trong làng.

Bí đỏ bà trồng, cây nào cũng tươi tốt, sum suê hơn hẳn.

Ký ức đậm nhất của tôi về căn nhà cũ của bà là giàn nho trong sân.

Cuối hè mỗi năm, nho chín đầy giàn, ăn không xuể.

Bà sẽ hái đi cho hàng xóm, người thân, họ hàng, mỗi đứa con đều có phần.

Ông ngoại là người khó tính, nhưng ông rất chăm chỉ.

Rảnh là lại ra đồng làm ruộng.

Rau củ trồng được đem bán ở chợ.

Ông nghiêm khắc với con cái.

Khi ông còn sống, mọi việc trong nhà đều do ông quyết định.

Các cậu, các dì đều biết tôn trọng và hiếu thảo với người già.

Nhưng kể từ khi ông mất, trong nhà chỉ còn lại một mình bà ngoại.

Mọi người bắt đầu xem bà như một gánh nặng.

Không ai muốn đón bà về ở cùng.

Lúc ấy, họ viện cớ bà hay nói nhiều, hay lải nhải dạy dỗ con cháu.

“Đi làm đã đủ mệt rồi, không muốn nghe bà càm ràm nữa.”

Bà biết chuyện, càng im lặng hơn.

Bà nghĩ, có lẽ con cái không thích mình hay nói.

Nếu mình bớt nói đi, có khi tụi nhỏ sẽ thích mình hơn.

Có khi sẽ chịu về nhà thăm mình nhiều hơn.

Nhưng không hề.

Bọn họ bàn bạc một hồi, quyết định để bà ở lại thị trấn.

“Bà sống chưa từng ở chung cư bao giờ, lên thành phố chắc sẽ bất tiện.”

“Quê mình vẫn tốt hơn, hàng xóm thân quen, lại nằm ở trung tâm huyện, đi đâu cũng tiện.”

“Trên phố làm gì thoải mái bằng ở làng? Bà cũng quen rồi còn gì.”

Họ nghĩ, làng tuy là làng ven đô, nhưng nằm ngay trục đường chính của huyện.

Bà sống một mình ở đó cũng không sao.

Ít ra còn hơn nhiều cụ già đang ở trong mấy ngôi nhà đất sụp xệ.

Chỉ là căn nhà cũ quá xuống cấp, không phù hợp để ở.

Nhất là nhà vệ sinh vẫn là kiểu ngồi xổm.

Sân thì lộ thiên, muốn đi vệ sinh phải từ trong nhà bước ra, bước xuống bậc tam cấp, đi qua sân mới đến chỗ đó.

Mỗi khi mưa hay tuyết rơi, rất dễ trượt té, vô cùng bất tiện cho người già.

Hai cậu tôi hùn tiền sửa nhà, làm sàn sưởi, lắp máy lạnh, kéo WiFi.

Thế là bà có thể sống một mình ở thị trấn, không cần đến nhà con cháu phiền phức.

Mỗi dịp lễ Tết, mọi người lại về quê một chút.

Dường như với nhiều gia đình, đây là điều bình thường.

Rất ít đứa cháu thật lòng muốn ở chung với người già.

Bà cũng biết thân biết phận.

Trừ khi bất đắc dĩ, bà sẽ không chủ động đòi ở với con cháu.

Trong nhà tôi, có vẻ chẳng ai làm gì quá đáng.

Nhưng bà ngoại lại không hề hạnh phúc.

Con cháu không sai gì rõ ràng.

Bà thì rất hiền lành.

Nhưng cứ có cảm giác gì đó rất sai.

Một loại cảm giác… không thể gọi tên, không thể đào sâu tìm hiểu.

Dưới ánh nhìn thờ ơ của người thân, bà dần trở nên lặng lẽ.

Trước đây, tôi từng nói với mẹ về sự thay đổi của bà.

Mẹ chỉ nói:

“Ông mất rồi, bỏ bà giữa lưng chừng cuộc đời.”

“Sống với nhau nửa đời người, nay chỉ còn mình bà, buồn là chuyện bình thường.”

“Không thay đổi mới là bất thường.”

Nhưng tôi luôn nghĩ…

Một phần còn là vì sự đối đãi của con cháu nữa.

Khi ông ngoại qua đời, hai cậu tôi nhanh chóng phân chia trách nhiệm.

Cậu cả lo chuyện hậu sự cho ông.

Cậu út phụ trách phần của bà.

Từ đó, cậu cả mặc nhiên coi bà là trách nhiệm của cậu út.

Cậu út thì nghĩ: bà vẫn sống, việc chăm sóc nên cùng chia nhau.

Dù sao trước kia, khi ông còn sống, ai cũng có phần trách nhiệm.

Mẹ tôi và dì, vì là con gái, nên dẫu có muốn hiếu thảo cũng chẳng thể.

Vì nhà có con trai, nếu con gái lo cho mẹ quá nhiều, người ngoài sẽ chỉ trích con trai và dâu.

Ngay cả khi mẹ tôi muốn đối xử tốt với bà, cũng bị những quy tắc vô hình cản lại.

Việc duy nhất có thể làm là đến thăm, mang chút quà bánh, chút tiền.

Nhưng kể từ khi tôi nghe được rằng…

Bà thường cất tiền mà con gái đưa cho, vì hai cậu hay than nghèo kể khổ, bà không chịu nổi mà lén đưa lại cho họ.

Từ đó, tôi không đưa tiền cho bà nữa.

Tôi vẫn luôn không hiểu: thế nào là “hiếu thảo” đúng nghĩa?

Nhưng tôi nghĩ, trong căn nhà mỗi dịp Tết đông nghịt người ấy—

Không một ai thật sự hiếu thảo cả.

Nhưng cũng chẳng ai phạm lỗi gì lớn.

Bởi vì bà có cơm ăn, có áo mặc, sống trong căn nhà ba tầng rộng rãi, đầy đủ tiện nghi.

Cuộc sống của bà tốt hơn vô số cụ bà khác.

Nên tôi chẳng thể trách ai được.

Chỉ là khoảnh khắc ấy, tôi mới nhận ra một điều sâu sắc:

**Người già, thực sự rất đáng thương.**

Có con chưa chắc đã trông cậy được lúc về già.

Tôi từng đọc một câu nói:

**”Tại sao lại cảm thấy người già phiền phức? Vì người mẹ từng yêu thương họ nhất… không còn nữa.”**

Bà ngoại là người may mắn.

Cả một đời không được yêu thương vô điều kiện.

Nhưng vào cái tuổi xế chiều, rốt cuộc cũng gặp lại mẹ ruột của mình.

Tối qua, khi giúp bà tắm rửa, tôi lặng lẽ hỏi:

“Bà ơi, bà có từng trách ba mẹ ruột không?”

Bà im lặng thật lâu.

Lâu đến mức tôi tưởng bà dùng im lặng làm câu trả lời.

Trên mặt bà là nét biểu cảm phức tạp đến mức tôi không hiểu nổi.

Ngay lúc tôi định chuyển chủ đề—

Bà bỗng mỉm cười nhẹ, như vừa buông được thứ gì đó trong lòng:

“Trước kia có trách đấy.”

“Con nghĩ xem, có đứa trẻ nào không nhớ mẹ?”

“Hồi nhỏ bà luôn nghĩ, tại sao người ta ai cũng có cha mẹ, chỉ mỗi mình bà là bị bỏ rơi trong làng, là đứa trẻ lạ bị người khác vứt lại.”

“Lúc đó bà từng thề, nếu gặp lại cha mẹ ruột, nhất định sẽ không tha thứ.”

“Nhưng mà… bà đợi, đợi mãi từ cô bé thành bà già, giờ nói thật lòng, ở tuổi này rồi, không còn giận ai nổi nữa.”

“Cha mẹ – con cái, ai chẳng có những nỗi khổ khó nói. Không ai có thể trọn vẹn với tất cả.”

“Nhìn thấy cha mẹ ruột nằm bệnh viện như vậy, lòng bà cũng chẳng dễ chịu chút nào.”

“Người xưa ai cũng khổ. Bà giờ cũng làm mẹ rồi, nên bà hiểu.”

Ở nơi bà không thấy được…

Tôi lén lau nước mắt.

Bà già nhỏ bé ấy, sao cứ phải luôn nghĩ cho người khác?

Rõ ràng…

Trong mắt tôi – người ngoài cuộc.

**Bà mới là người vô tội nhất.**

Nếu bà sinh muộn vài năm.

Nếu bà không bị cho đi.

Nếu bà được đón về sớm hơn…

**Thì có lẽ… bà đã không sống một cuộc đời như thế.**

Chưa từng hưởng qua mấy ngày an yên.

Chương trước Chương tiếp
Loading...